Phát triển phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc (CE-C4D) tại Việt Nam

2
799

Hình: Cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc (C4D).

By Nguyễn Thị Ánh Hường, Hanoi University of Science, Vietnam National University, Hanoi

Với mục tiêu hướng tới góp phần giải quyết các vấn đề thực tế của Việt Nam, đồng thời phổ biến một phương pháp phân tích đơn giản, hiệu quả, chi phí thấp, có khả năng phân tích hiện trường, tự động hóa cao,…. nhóm nghiên cứu tại Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội đã phát triển dòng thiết bị trên cơ sở phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc (Capillary Electrophoresis, Capacitively Coupled Contactless Conductivity Detection, CE-C4D). Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu đang được triển khai với sự hợp tác cùng với nhóm nghiên cứu phương pháp CE-C4D của giáo sư Peter C. Hauser, trường Đại học Basel, Thụy sĩ. Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng đang tập trung phát triển các ứng dụng thiết thực tại Việt Nam như: phân tích kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, quan trắc môi trường,…
Một trong những ứng dụng cụ thể về phân tích kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm gần đây đã được đăng trên tạp chí Journal of Chromatography A. Nhóm nghiên cứu phát triển hệ thiết bị CE-C4D bán tự động, vận hành đơn giản bằng cách xoay van để chuyển giữa các giai đoạn rửa hệ thống, rửa mao quản, tách điện di,…. Trong đó, bước bơm mẫu cũng được đơn giản hóa theo kiểu xiphông nâng cao đầu mao quản bơm mẫu khoảng 10cm, phù hợp với tay nghề ở tuyến địa phương. Việc ứng dụng đã được triển khai cho nhóm chất beta-agonist. Đây là nhóm chất vừa được sử dụng cho mục đích dược phẩm (thuốc chữa bện hen, bao gồm cho cả trẻ em: salbutamol, metoprolol,…) nhưng lại vừa được sử dụng trái phép trong thức ăn chăn nuôi nhằm tăng tỷ lệ thịt nạc cho vật nuôi (salbutamol, ractopamine), do đó gây nhiễm độc cho cơ thể con người. Nghiên cứu đã thành công trong việc ứng dụng thiết bị CE-C4D bán tự động phát triển được để phân tích ba chất: salbutamol, ractopamine và metoprolol trong mẫu dược phẩm và mẫu thức ăn chăn nuôi với giới hạn phát hiện đạt được là 0,7 ppm. Thành công này đã mở ra cơ hội ứng dụng của phương pháp phân tích và hệ thiết bị CE-C4D góp phần giải quyết các vấn đề thực tế hiện nay tại Việt Nam.
Ngoài ra, các nghiên cứu về sử dụng hệ thiết bị để phân tích các chỉ tiêu an toàn thực phẩm và quan trắc môi trường (xác định hàm lượng các anion và cation, asen trong nước ngầm, kim loại nặng, cyanua trong nước thải công nghiệp, chất bảo quản trong đồ uống giải khát) đang được nhóm nghiên cứu triển khai thực hiện. Nhóm nghiên cứu hy vọng phương pháp CE-C4D sẽ ngày càng được ứng dụng rộng rãi và các thiết bị mới nhất sẽ được trang bị cho các trường đại học cao đẳng tại Việt Nam như là công cụ thực tập và nghiên cứu cho sinh viên ngành hóa phân tích và hoá môi trường.

Nguồn: http://ce-vietnam.com/index.php
Reference:
Thi Anh Huong Nguyen, Thi Ngoc Mai Pham, Thi Tuoi Doan, Thi Thao Ta, Jorge Sáiz, Thi Quynh Hoa Nguyen, Peter C. Hauser, Thanh Duc Mai, Simple semi-automated portable capillary electrophoresis instrument with contactless conductivity detection for the determination of β-agonists in pharmaceutical and pig-feed samples, Journal of Chromatography A, 2014, 1360, 305-311. (DOI: 10.1016/j.chroma.2014.07.074)
Link tạp chí: http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0021967314011790
Email: [email protected]

2 BÌNH LUẬN